[Bình An Ngay Hiện Tại] Bài 3: KHAM NHẪN TRƯỚC KHỔ BỆNH
Nếu ai bình thường sống không có khổ bệnh đó là một phước
báu. Phước báu này do tâm Từ mà có được, do tâm Từ nên không làm đã thương
chúng sanh, không giết hại chúng sanh nên hiện quả ít bệnh, trường thọ.
Nhưng thân ta nay đã mang trọng bệnh do nhiều nguyên
nhân, chúng ta đang bị khổ thọ tấn công khốc liệt, chúng ta phải làm sao?
Giờ đây là lúc chúng ta phải kham nhẫn, hoan hỷ với
những gì mình đang thọ lãnh bởi chính nhân quả mình gây ra.
Đức Phật dạy:
“Hãy tu
tập sự tu tập về tâm hỷ, cái gì thuộc về bất lạc sẽ được đoạn trừ”.
Tâm Bất lạc là tâm phiền não, khổ đau lo rầu, sợ hãi,
khóc thương, tâm trạo hối, tâm loạn động, v.v...
Tâm Hỷ là hoan hỷ, kham nhẫn, hay nhẫn nhục, tùy
thuận, bằng lòng với nhân quả xảy ra.
Hoặc Phật dạy trong Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (MN.02):
“Và này
các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ? Này các
Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự
xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn
những cách nói mạ lị phỉ báng.
Vị ấy có
tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau
nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người.
Này các
Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
ấy không còn nữa.
Này các
Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ.”
Chúng ta phải hoan hỷ, kham nhẫn để vượt qua khổ cảnh
bệnh đau. Hỷ tâm giúp chúng ta chuyển hóa thế giới địa ngục thành thanh lương,
thành bình an. Để kham nhẫn, hoan hỷ được chúng ta phải hiểu về sự chuyển hóa
nghiệp, nếu tâm chúng ta bất động trước những cảm thọ thì sẽ chuyển hóa được
nghiệp bất thiện của mình. Thứ nữa là phải có thời gian quán xét để đoạn trừ Thân
kiến. Chúng ta phải học theo lời dạy của Phật: “Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh!”.
Chúng ta phải kham nhẫn đến tận cùng, dù có chết cũng
không sợ. Chúng ta sẵn sàng từ bỏ thân này để đi về với Phật, chúng ta không có
tham luyến cái thân giả tạm này. Nếu còn một chút tham luyến nào thì giờ phút
cận tử nghiệp chắc chắn sẽ dao động và sẽ bị tái sanh vào khổ cảnh. Nếu chúng
ta bất động, không lo sợ, hướng đến từ bỏ thì sẽ nhập vào bất tử, chấm dứt tái
sanh, giải thoát hoàn toàn.
“31) Ví
như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây đèn dầu được cháy sáng.
Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến tiêu diệt, nhiên liệu không được mang
đến, thời ngọn đèn sẽ tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một
cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm
thọ tận cùng sức chịu đựng của thân”. Khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng
sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: “Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng
sức chịu đựng của sinh mạng”. Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: “Ở
đây, tất cả những gì được cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở
thành mát lạnh.””
(Kinh
Tương Ưng Bộ - Thiên Đại Phẩm)
3.2 “Dầu thân
tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh!”
Khi gia chủ Nakulapità đến gặp Thế Tôn để xin Thế Tôn
dạy khi mà thân ông đã già, nhiều bệnh thì được Thế Tôn đã dạy cho ông là: “Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị
bịnh!”. Sau đó ngài Sàriputta giảng cho ông cặn kẽ hơn về pháp hành để cho
“tâm không bị bịnh” đó là quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô
thường, không phải là ta, là của ta, là bản ngã của ta.
Ở đây, chúng ta hiểu thân ngũ uẩn là gì?
Thân ngũ uẩn gồm có sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc uẩn chính là phần thân xác của chúng ta, được cấu tạo từ
bốn đại (đất, nước, gió, lửa), là tóc, da, thịt, thịt, gân, xương, tủy thận,
tim, gan, lá lách, ruột, v.v...
Thọ uẩn là những cảm thọ nơi thân ta, có thọ uẩn mà chúng ta
có các cảm thọ nóng, lạnh, đau, nhức, buồn, vui, v.v...
Tưởng uẩn là phần vô thức, như ban đêm chúng ta ngủ nằm mơ thấy
các giấc mơ; chúng ta nhớ lại quá khứ, hướng tâm về tương lai là do có tưởng uẩn.
Hành uẩn là sự hoạt động của thân ngũ uẩn.
Thức uẩn là cái biết của thân ngũ uẩn, gồm có sắc thức, tưởng
thức.
Nguyên văn đoạn kinh:
“- Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ.
Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai
mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một
giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học
tập như sau: “Dầu thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh!” Như vậy, thưa
Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.
- Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau:
“Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bịnh và tâm
cũng bị bịnh? Cho đến như thế nào là thân bị bịnh, nhưng tâm không bị bịnh
không?”
- Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn
giả Sàriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải
thích ý nghĩa của lời nói này!
- Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ
nói.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Gia chủ Nakulapità vâng đáp Tôn giả Sàriputta.
Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Thế nào, này Gia chủ, là THÂN BỊNH VÀ TÂM BỊNH?
Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc
Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh,
không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không
tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc,
hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta!” khi sắc
biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ,
ưu não!
Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay
thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta”. Do bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến hoại, đổi khác;
nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng,
hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta”. Do bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của ta” khi tưởng biến hoại, đổi
khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các
hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh:
“Các hành là ta, các hành là của ta”. Do bị ám ảnh: “Các hành là ta, các hành
là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị
ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!
Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay
thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: “Thức là ta, thức
là của ta” khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy
khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh và tâm có bịnh.
- Thế nào, này Gia chủ, là THÂN CÓ BỊNH MÀ TÂM KHÔNG CÓ BỊNH?
Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc
Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc
Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân,
không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã,
hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Sắc là ta, sắc là của
ta” khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi
lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay
thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: ‘Thọ là ta,
thọ là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thọ là ta, thọ là của ta” khi thọ biến
hoại, đổi khác; nên không do thọ biến hoại, đổi khác, mà khởi lên sầu, bi, khổ,
ưu, não!
Không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng,
hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng
là ta, tưởng là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Tưởng là ta, tưởng là của
ta” khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên không do tưởng biến hoại, đổi khác mà khởi
lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Không quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có hành,
hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám ảnh:
“Các hành là ta, các hành là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Các hành là
ta, các hành là của ta” khi các hành biến hoại, đổi khác; nên không do các hành
biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay
thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là
ta, thức là của ta”. Do vị ấy không bị ám ảnh: “Thức là ta, thức là của ta” khi
thức biến hoại, đổi khác; nên không do thức biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu,
bi, khổ, ưu, não.
Như vậy, này Gia chủ, là thân có bịnh, nhưng tâm không có bịnh.
Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapità hoan hỷ,
tín thọ lời Tôn giả Sàriputta thuyết.
(Tương Ưng Uẩn -
Thiên Uẩn)
3.3 Đứng lên
trên vực thẳm
1-2) ...
3) -- Kẻ vô văn phàm phu
nói như sau: "Ở giữa biển lớn, có vực thẳm". Nhưng ở đây, này các
Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xẩy ra, lại nói:
"Ở giữa biển lớn, có vực thẳm".
4) Này các Tỷ-kheo, đồng
nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này.
5) Kẻ vô văn phàm phu,
khi cảm giác khổ thọ về thân, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi
đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng lên
trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.
6) Còn bậc Ða văn Thánh
đệ tử, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác khổ thọ về thân, không sầu muộn, không
than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt
tới chỗ chân đứng.
1) Ai không chịu đựng
nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.
2) Ai có thể chịu
đựng,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc không run rẩy,
Vị ấy vượt vực sâu,
Ðạt tới chỗ chân đứng.
(Kinh Tương Ưng Thọ)


Nhận xét
Đăng nhận xét